Tìm hiểu về sữa ong chúa tươi nguyên chất

Cập nhật 28/07/2017 09:55 - Lượt xem: 4142

Chúng ta hãy cùng chuyên viên nghiên cứu của viện công nghiệp thực phẩm tìm hiểu thông tin và những tác dụng mà sữa ong chúa mang lại nhé.

MỞ ĐẦU

Sữa ong chúa là một chất tiết dạng kem, màu trắng, vị chua gắt từ tuyến dưới hàm và tuyến hạ hầu của ong thợ (Apis mellifera). Nó có thể thay đổi một ấu trùng ong thợ bình thường có vòng đời chỉ 1,5 tháng thành một ong chúa to lớn có thể sống đến 5 năm. Các tính chất dược lý của sữa ong chúa đối với con người đã được nghiên cứu và đã có một số khuyến cáo về những ảnh hưởng tích cực của chúng đến hệ thống miễn dịch, trao đổi chất, chức năng mạch máu và nội tiết, chức năng tim mạch, chăm sóc da và kiểm soát cholesterol trong máu (Kramer et al, 1977; Sver et al, 1995; Taniguchi et al, 2003; Erem et al, 2006). Chính vì vậy, sữa ong chúa được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới trong các ngành thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm. Các sản phẩm chế biến từ sữa ong chúa bao gồm: sữa ong chúa đông khô, viên nén, viên nang sữa ong chúa (cả cứng và mềm), paste mật ong – sữa ong chúa. Trong những năm gần đây, ngành ong Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc với sản lượng sữa ong chúa và mật ong tăng cao. Do tính chất đặc thù tập quán tiêu dùng của thị trường nội địa, nên phần lớn sản lượng sữa ong chúa và mật ong của nước ta phục vụ cho xuất khẩu (87%), với thị trường chủ yếu là các nước phát triển: Mỹ, EU, Nhật. Tuy nhiên, xuất khẩu mật ong và sữa ong chúa tươi Việt nam gặp phải sự cạnh tranh rất lớn từ sữa ong chúa Trung Quốc về giá thành, lại luôn gặp rủi ro về hàng rào kỹ thuật. Trong khi đó chúng ta phải nhập rất nhiều các loại sản phẩm viên nang sữa ong chúa từ các nước Mỹ, Newzealand, Úc với giá thành rất cao (10.000-15.000 đ/viên). Mặc dù có giá thành cao như vậy nhưng nhu cầu sử dụng các sản phẩm viên nang sữa ong chúa trong nước vẫn tăng nhanh do từ lâu Y học cổ truyền Việt Nam và Trung quốc đã công bố những tác dụng quí giá của sữa ong chúa. Bên cạnh đó, hiện nay do đời sống kinh tế tăng cao nên đa số người dân quan tâm đến sức khỏe và chăm sóc sắc đẹp. Chính vì vậy, các nhà nhập khẩu vẫn liên tục nhập về các sản phẩm viên nang sữa ong chúa từ nhiều nguồn khác nhau.
Sữa ong chúa tươi nguyên chất khi còn ở trong nụ
Sữa ong chúa tươi nguyên chất khi còn ở trong nụ

1. THÀNH PHẦN, TÍNH CHẤT VÀ TÁC DỤNG CỦA SỮA ONG CHÚA

1.1 Giới thiệu chung
Sữa ong chúa là một loại chất tiết từ tuyến hạch miệng của con ong thợ từ 7 ngày tuổi trở đi để nuôi ong chúa và ấu trùng ong. Sữa ong chúa đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định giới tính và sự phát triển của ong chúa. Trong 3 ngày phát triển đầu tiên, tất cả ấu trùng đều được ăn sữa ong chúa do vậy không có sữa ong chúa dự trữ trong tổ. Tuy nhiên, đến ngày thứ 4, thức ăn sẽ thay đổi sang loại giàu carbohydrate hơn là mật ong và phấn hoa đối với những ấu trùng được ấn định phát triển thành ong thợ, chỉ duy nhất ấu trùng ong chúa tiếp tục sử dụng sữa ong chúa. 
1.2 Thành phần
Sữa ong chúa là một loại vật liệu tính chất đông, nhớt. Nó tan một phần trong nước với tỷ trọng 1,1 g/ml. Sữa ong chúa có mầu thay đổi từ trắng, vàng trắng đến vàng, màu vàng tăng lên theo thời gian bảo quản. Nó có mùi hơi chua và hăng, vị chua ngọt. Các đặc tính cảm quan là những tiêu chí rất quan trọng để đánh giá chất lượng sữa ong chúa. Sữa ong chúa để lâu trong điều kiện bảo quản không đúng cách có xu hướng đậm màu hơn và có mùi ôi. Để có chất lượng tốt nhất, sữa ong chúa nên được bảo quản lạnh đông. Độ nhớt của sữa ong chúa rất khác nhau phụ thuộc vào hàm lượng nước và thời gian bảo quản. Nó dần dần trở nên nhớt hơn nếu bảo quản ở nhiệt độ phòng hoặc nhiệt độ 5oC. Sự tăng lên của độ nhớt xuất hiện có liên quan đến sự tăng lên của các thành phần ni tơ không hòa tan trong nước, sự giảm xuống của các thành phần ni tơ hòa tan và các axít amin. Những sự thay đổi này là do hoạt tính của các enzyme và sự tương tác của các thành phần protein và lipid trong sữa ong chúa.
Cho đến nay, chưa có một tiêu chuẩn quốc tế nào về sữa ong chúa. Tuy nhiên, một số nước đã xây dựng tiêu chuẩn quốc gia như Argentina (Capitulo, 1979), Bulgaria (Bungarian Standard ong Royal Jelly, 1984), Ba Lan (Polish Standard PN-R-78892, 1996), Thổ Nhĩ kỳ (Turkish Standard, 2000), Thụy Sỹ (Bogdanov, 2004), Trung Quốc (Chinese Standard, 2008), Ấn Độ (Bureau of Indian Standard, 2012), Hàn Quốc (Korea Food and Drug Administration. Royal Jelly specification). Một nhóm nghiên cứu của Hiệp hội Ong Quốc tế đang dự thảo một tiêu chuẩn Quốc tế về sữa ong chúa. Một công trình đầu tiên được công bố vào năm 2009 về tiêu chuẩn sữa ong chúa tươi và đông khô của nhóm nghiên cứu này được trình bày trong bảng 1.1.
Bảng 1.2 Thành phần của sữa ong chúa tươi và đông khô
(Sabatini et al., 2009)
Thành phầnHàm lượng
Dạng tươiDạng đông khô
Nước (%)60 - 70<5
Lipid (%)3 - 88 – 19
10 – HDA (%)> 1,4> 3,5
Protein9 – 1827 – 41
Fructose + glucose + sucrose (%)7 – 18
Fructose (%)7 – 18
Glucose (%)4 – 8
Sucrose (%)0,5 – 2,0
Tro (%)0,8 – 3,02 – 5
pH3,4 – 4,53,4 – 4,5
Độ axit (ml 0,1N NaOH/g)3,0 – 6,0

Độ ẩm: Hàm lượng nước chiếm 60-70% trong sữa ong chúa. Các chất khô bao gồm carbohydrate, protein, axit amin và chất béo. Ngoài ra còn có các vitamin và chất khoáng với số lượng nhỏ hơn.
Sữa ong chúa có chứa Protein và các axit amin
Protein (27-41%) là thành phần quan trọng nhất tính theo trọng lượng khô của sữa ong chúa. Hơn 80% protein sữa ong chúa là các protein hòa tan (Simuth, 2001). Tám protein sữa ong chúa chính (MRJP1, MRJP2, MRJP3, MRJP5, MRJP6, MRJP7, MRJP8) đã được định tính bằng phương pháp tách dòng và đọc trình tự theo cDNA của chúng (Albert và Klaudiny, 2004). Các MRJP được cho là các nhân tố chủ yếu chịu trách nhiệm đối với các vai trò lý sinh cụ thể của sữa ong chúa trong sự phát triển của ong chúa, do các MRJP bao gồm số lượng  lớn các axit amin thiết yếu, tương tự như ovalbumin và casein (Schmitzova et al, 1998). Cụ thể, MRJP1 được biết là royalactin, một loại protein có trong sữa ong chúa chịu trách nhiệm cho sự phát triển hình thái và các đặc điểm chức năng của ong chúa bằng con đường truyền tín hiệu qua trung gian Egfr (Epidermal growth factor receptor – thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì) . Nó kích thích sự tăng trưởng cơ thể bằng cách hoạt hóa kinase p70S6 (Karakura, 2011).
Các axit amin có mặt với tỷ lệ cao nhất là proline, lysine, glutamic axit, alanine, phenylalanine, aspartate và serine (Boselli et al, 2003). Không có sự thay đổi đáng kể nào được quan sát thấy về hàm lượng tổng số của các axít amin trong sữa ong chúa bảo quản ở 4oC trong 10 tháng. Tuy nhiên, trong các mẫu tương tự bảo quản ở nhiệt độ phòng, hàm lượng proline và lysine tăng lên trong 3 tháng đầu tiên và sau 6-10 tháng lại giảm một chút so với mẫu đối chứng. Điều này cho thấy, dưới điều kiện nhiệt độ thích hợp, hoạt động của enzyme proteolytic diễn ra liên tục theo thời gian. Liming et al (2009) đã định lượng 26 axít amin trong sữa ong chúa.
Sữa ong chúa chứaLipid, 10-HDA và các axit hữu cơ
Sữa ong chúa tươi có các axit béo (FA) và lipid (3-8%), trong đó sản phẩm đông khô chứa khoảng 15-30% chất béo. Thành phần lipid được báo cáo là khoảng 80-85% axit béo, 4-10% phenol, 5-6% sáp, 3-4% steroid và 0,4-0,8% phospholipid. Phân đoạn FA chứa 32% trans-10-hydroxydecanoic acid (HDA), 5% dicarboxylic acid và một số axit khác. 10-HDA và HDAA là các thành phần đặc biệt của sữa ong chúa (Terada et al, 2011). Không giống các axit hữu cơ trong hầu hết các nguyên liệu động vật và thực vật, các axit béo của sữa ong chúa có 8-10 nguyên tử cacbon, và chúng thường là các FA hydroxyl hoặc dicarboxylic. Trong đó, một axit quan trọng là 10-hydroxy- 2- decenoic (10-HDA), một axit béo chưa no được xác định để đánh giá chất lượng sữa ong chúa.
Các tính chất độc đáo của sữa ong chúa được cho là do thành phần 10-HDA với nhiều tác dụng dược tính khác nhau, chỉ có mặt duy nhất trong sữa ong chúa (Isidorova et al, 2009). Vì lý do này, hàm lượng 10-HDA được coi như một chất chỉ thị của sữa ong chúa và được sử dụng để phân tích chất lượng sữa ong chúa.  Sáu hợp chất tồn tại ở dạng mono hoặc di-ester của acid 10-hydroxy-2E-decenoic acid trong đó nhóm hydroxyl được ester hóa bởi một đơn vị FA khác và một hydroxyl-2E-decenoic acid 10-phosphate. Ngoài ra, 9-hydroxy-2E-decenoic acid tồn tại ở dạng một hỗn hợp các đồng phân quang học (Noda et al., 2005).
Carbohydrate trong sữa ong chúa
Hàm lượng cabonhydrate trong sữa ong chúa chiếm xấp xỉ 30% trọng lượng khô. Các đường chủ yếu là fructose và glucose trong đó chiếm khoảng 90% trọng lượng đường tổng số trong các mẫu sữa ong chúa. Các oligosaccharide khác tìm thấy trong sữa ong chúa với hàm lượng nhỏ là maltose, trehalose, erlose, gentiobiose, isomaltose, raffinose và melezitose.
Muối khoáng trong sữa ong chúa
Hàm lượng tro chiếm 0,8-3% trọng lượng tươi sữa ong chúa (Garcia-Amoedo et al, 2007; Messia et al, 2003). Các nguyên tố chính theo thứ tự hàm lượng giảm dần là K, Ca, Na, Mg, Zn, Fe, Cu và Mn (Benfenati et al, 1986). Các nguyên tố dạng vết chiếm một vai trò chìa khóa trong các hoạt tính sinh y liên quan đến sữa ong chúa do các nguyên tố này có các chức năng sinh học đã biết hoặc chưa biết phức tạp. Hàm lượng của 18 nguyên tố dạng vết (Al, Ba, Sr, Bi, Cd, Hg, Pb, Sn, Te, Tl, W, Sb, Cr, Ni, Ti, V, Co, Mo) và nguyên tố khoáng (P, S, Ca, Mg, K, Na, Zn, Fe, Cu, Mn) đã được nghiên cứu một cách hệ thống trong các mẫu sữa ong chúa đã được định danh hệ thực vật và vùng địa lý (Stocker et al, 2005). Hàm lượng của các nguyên tố dạng vết và nguyên tố khoáng là khá ổn định trong các mẫu sữa ong chúa liên quan. Kết quả quan trọng nhất là sự điều chỉnh cân bằng nội môi của hàm lượng các nguyên tố khoáng và vết  trong sữa ong chúa. Ảnh hưởng này được tạo ra trong tuyến nội tiết của ong thợ để đáp ứng nhu cầu của ấu trùng ong. Nghiên cứu này cũng báo cáo các kết quả mới là sữa ong chúa giống như một dạng sữa của loài côn trùng, cho thấy việc điều chỉnh cân bằng nội môi tương tự như sữa động vật có vú và sữa người.

2. CÔNG DỤNG CỦA SỮA ONG CHÚA

Sữa ong chúa là một trong số các thực phẩm hấp dẫn nhất trong số các thực phẩm tốt cho sức khỏe. Nó được sử dụng rộng rãi như mỹ phẩm hay thực phẩm bổ sung do sự tin tưởng về những ảnh hưởng của nó lên cơ thể con người tương tự như trên loài ong mật.
- Tác động kháng khuẩn, kháng virus và kháng nấm của sữa ong chúa: Rất nhiều nghiên cứu cho thấy sữa ong chúa có hoạt tính kháng khuẩn, cả vi khuẩn gram (-) và vi khuẩn gram (+). Nghiên cứu của Khaled và cộng sự cho thấy sữa ong chúa có hoạt tính kháng các vi khuẩn gram (+) như Staphylococcus aureus, Bacillus subtilisListeria monocytogenes và các vi khuẩn gram (-) như E. coli, Salmonella enteritidis. Nghiên cứu cũng cho thấy vi khuẩn gram (+) nhạy cảm với sữa ong chúa hơn các vi khuẩn gram (-) (Khaled et al, 2007). Hoạt tính này có được là do 10-HDA và các protein, các peptide của sữa ong chúa tạo ra. Một số peptid kháng khuẩn trong sữa ong chúa đã được xác định, bao gồm royalisin, apisimin, jelleines I, II, III, IV và apalbumin α.
- Tác động chống lão hóa và kích thích sinh học của sữa ong chúa: vai trò của sữa ong chúa trong đàn ong là kích thích và làm tăng sự phát triển của ấu trùng, làm tăng quá trình trao đổi chất. Các nghiên cứu cho thấy sự tăng cân lên ở động vật khi cho ăn sữa ong chúa. Người ta cũng thấy rằng sữa ong chúa làm tăng sự trao đổi chất ở người (Chauvin, 1987).
Trên mô hình chuột thực nghiệm, Pavel và cộng sự đã báo cáo kết quả với một chế độ ăn 16 tuần với khẩu phần có sữa ong chúa đã bảo vệ ADN, làm giảm stress oxy hóa và làm tăng tuổi thọ trung bình dự tính (Pavel, 2011). Trong một nghiên cứu của người Nhật, sữa ong chúa làm tăng tuổi thọ của C.elegans (Yoko et al, 2011). Do vậy, các nhà khoa học dự đoán rất có thể sữa ong chúa có nhân tố kích thích kéo dài tuổi thọ. Các nghiên cứu tiếp theo về tác nhân kéo dài tuổi thọ của sữa ong chúa có thể mở rộng cho chúng ta những hiểu biết về hệ thống gen liên quan đến sự kiểm soát tuổi thọ ở các loài và do vậy có thể kiểm soát được quá trình lão hóa.
Tác dụng chống lão hóa cực tốt của sữa ong chúa
Tác dụng chống lão hóa cực tốt của sữa ong chúa.
- Tác động điều chỉnh miễn dịch của sữa ong chúa: Tác động điều chỉnh miễn dịch đóng vai trò quan trọng đến các bệnh ung thư, dị ứng và viêm nhiễm. Các nghiên cứu in vivo đã khẳng định cả hai tác động kích thích miễn dịch và ức chế miễn dịch của sữa ong chúa có thể là kết quả của sự hiện diện các thành phần có hoạt động điều hòa miễn dịch khác nhau. Đối với sữa ong chúa, tác động kích thích hệ miễn dịch chiếm ưu thế và đã được nhiều công trình công bố (Okamoto et al., 2003, Sver et al., 1996). Krylop et al. (2000) báo cáo về trường hợp tăng lên của tất cả các tế bào máu và phân đoạn globulin α-1 và α-2. Sữa ong chúa kích thích sự tạo thành T-lymphocyte, chịu trách nhiệm cho đáp ứng miễn dịch chống lại virus và các tế bào ung thư. Hoạt tính này do thành phần 10-HDA trong sữa ong chúa chịu trách nhiệm. Gần đây, một nghiên cứu ảnh hưởng của sữa ong chúa đối với sự phát triển của khối u và di căn ở chuột đã cho thấy sữa ong chúa không ảnh hưởng đến sự tạo thành di căn khi dùng qua đường uống nhưng lại có khả năng ức chế sự tạo thành di căn một cách rõ rệt khi nó có mặt trong tĩnh mạch (Orsolic et al., 2005). Cho đến nay, tác động điều hòa miễn dịch quan trọng nhất của sữa ong chúa được cho là có liên quan đến thành phần protein của nó, đặc biệt là protein MSJP3 và apalabumin 1. MSJP3 được miêu tả như một thành phần kháng viêm và ức chế miễn dịch chủ yếu của sữa ong chúa nhờ tác dụng kích thích đáp ứng chống dị ứng. Ngược lại, apalbumin 1 lại thể hiện hoạt động kích thích miễn dịch và tiền viêm bằng cách điều tiết quá mức sự sản xuất yếu tố hoại tử khối u TNF-α (Najtan et al, 2006).
- Tác động bảo vệ da của sữa ong chúa 
Những nghiên cứu của Koya – Miyata và cộng sự đều cho thấy sữa ong chúa kích thích khả năng sản xuất collagen phụ thuộc vào nồng độ. Họ nhận thấy rằng 10-H2DA và 10-HDA trong sữa ong chúa đã sản xuất ra TGF-1 (transforming growth factor-1), là nhân tố rất quan trọng cho sản xuất collagen (Koya et al., 2004). 
Trong nghiên cứu của Hye Min Park và cộng sự (2011), sữa ong chúa (chứa khoảng 0,211% 10-HDA) đã được thử nghiệm lên quá trình lão hóa da gây ra bởi tia UVB ở nguyên bào sợi da người bình thường. Ảnh hưởng của sữa ong chúa và 10-HDA đến quá trình lão hóa da đã được kiểm tra bằng cách xác định procollagen typ I, yếu tố tăng trưởng chuyển hóa beta 1 (TGF-β1) và metalloproteinase nền 1 (MMP-1) sau khi chiếu xạ tia UV B. Kết quả cho thấy các nguyên bào sợi da người bị chiếu xạ UVB được xử lý với sữa ong chúa và 10-HDA đã tăng cường quá trình sản xuất procollagen tuyp I và  TGF-β1 nhưng hàm lượng MMP-1 không thay đổi. Do vậy, sữa ong chúa có thể bảo vệ hiệu quả da khỏi sự lão hóa gây bởi tia UV B bằng cách tăng cường sản xuất collagen (Hye Min Park et al, 2011).
- Tác động làm giảm hàm lượng glucose trong máu của sữa ong chúa: Các nghiên cứu cho thấy rằng sữa ong chúa có hoạt tính tương tự insulin và được cho rằng là có hiệu quả cả trên thử nghiệm động vật và trên lâm sàng (Kramer et al., 1977; Dixit and Patel, 1964; Okuda et al., 1998). Hoạt tính này do các peptide trong sữa ong chúa đảm nhiệm. Nghiên cứu của Karsten và cộng sự (2010) cho thấy không chỉ sữa ong chúa tươi mà ngay cả sữa ong chúa đông khô cũng kích thích sự chuyển hóa glucose ở người, mặc dù mức độ thấp hơn so với sữa ong chúa tươi. Tuy nhiên, sữa ong chúa có khả năng duy trì đường huyết tối ưu bằng cách oxi hóa một phần glucose để thu năng lượng nhờ các peptide có tác dụng giống như insulin. Hơn nữa, insulin tìm thấy trong sữa ong chúa dường như rất giống với insulin tìm thấy trong động vật có vú. Ở những bệnh nhân tiểu đường kháng insulin, sữa ong chúa làm giảm hàm lượng đường tới 33% trong 3 giờ sau khi tiêm. Một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2012 của Samira và cộng sự cho thấy sữa ong chúa còn có tác dụng làm giảm thừa cân ở bệnh nhân tiểu đường type 2 (Samira et al., 2012).
- Tác động đến hệ thần kinh của sữa ong chúa: Sữa ong chúa có khả năng kích thích, hoạt hóa hệ thống thần kinh trung ương (Gonnard et al, 1956) cũng như hệ thống thần kinh thực vật (Krylov et al, 2000). Sử dụng Apilac, một chế phẩm có chứa sữa ong chúa của Nga làm tăng sự photphoril hóa hệ thống thần kinh trung ương, làm tăng hoạt tính enzyme cholinesterase não chuột. Những nghiên cứu về não hiện nay cho thấy cơ chế phản ứng của sữa ong chúa đối với hệ thần kinh trung ương. Một chất chỉ có ở sữa ong chúa mà không có ở vật liệu nào khác là cAMP-N1 oxide, phản ứng trực tiếp lên sự biệt hóa tế bào và kích thích sự tạo thành các tế bào não khác nhau (Hattori et al, 2007). Sữa ong chúa cũng tạo điều kiện cho sự biệt hóa của tất cả các loại tế bào não (Hattori et al, 2007). Có giả thiết rằng sữa ong chúa có thể làm giảm các tế bào thần kinh chết và làm tăng các tế bào thần kinh mới ở bệnh nhân Alzheimer và Parkinson, mặc dù vẫn cần phải có nghiên cứu chi tiết hơn trên động vật thực nghiệm (Furukawa, 2008).
- Sữa ong chúa ảnh hưởng tới hệ tim mạch
Sữa ong chúa có ảnh hưởng tới các thông số của máu như sau: làm giảm hàm lượng cholesterol và triglyceride của máu (Nakajin et al, 1982), làm tăng hàm lượng HDL-cholesterol, làm giảm hàm lượng fibrinogen trong huyết tương và sự hình thành huyết khối. Bởi vì những ảnh hưởng này, sữa ong chúa có tác dụng bảo vệ tim mạch trong các thử nghiệm trên chuột (Krylov et al, 2000). Lyusop và Meshteryakov (1994) đã thử nghiệm sử dụng 300 mg sữa ong chúa cho nhóm các bệnh nhân thiếu máu tim và nhóm các bệnh nhân đau thắt ngực. Kết quả cho thấy có tới 76% ở nhóm thứ nhất được cải thiện triệu chứng và 86% thành công ở nhóm thứ hai. Sử dụng liều lượng 50-100 mg sữa ong chúa đông khô mỗi ngày đã hạ thấp hàm lượng cholesterol huyết thanh tổng số tới 14% và lipid tổng số tới 10% ở các bệnh nhân xơ vữa động mạch (Vittek, 1995). Hoạt tính làm giảm cholesterol là do MRJP1 của sữa ong gây ra vì nó liên kết với axít mật, làm tăng đáng kể sự tiết cholesterol vào phân cũng như làm tăng sự phân hủy cholesterol trong gan (Kashima, 2014).
- Tác dụng của sữa ong chúa đối với trẻ em: Sữa ong chúa có tác dụng rất tốt đối với trẻ em đẻ non, biếng ăn và trẻ em suy dinh dưỡng. Trong nghiên cứu của Fateeva và Rochai (1962), dùng sữa ong chúa đông khô với liều lượng 5 mg cho trẻ em 4 tháng (đặt trực tràng) và 10 mg cho trẻ em 3 tuổi (đặt dưới lưỡi). Kết quả cho thấy 35 trẻ em đã được thử nghiệm thành công: sau 2-3 ngày dùng sữa ong chúa, trẻ em đã bắt đầu ăn, sau 15 ngày đã thấy tăng cân rõ ràng. Nghiên cứu của Mahmoud vào năm 1997 cũng đã cho thấy cho trẻ em sinh non dùng sữa ong chúa 1 g/ngày trong vòng 5 ngày thì hiệu quả tăng cân rõ rệt hơn nhóm đối chứng không dùng sữa ong chúa. Các tác giả cho rằng sữa ong chúa gây ra sự thèm ăn và do vậy đồng hóa được thức ăn nhiều hơn. Ngoài ra, sữa ong chúa còn làm giảm nhiễm Candida ở trẻ em sinh non sau 3 tuần [Gyuzikina, 1993].
- Tác dụng của sữa ong chúa đối với người cao tuổi: Có rất nhiều tác giả khác nhau đã công bố tác dụng của sữa ong chúa đối với các bệnh tuổi già. Sữa ong chúa rất có hiệu quả trong điều trị các bệnh xơ cứng động mạch, yếu mệt, các triệu chứng sau mãn kinh. Trong nghiên cứu của Valiukiene và cộng sự (1997), 23 người tình nguyện từ 45-89 tuổi được ăn Apilac (chứa 70 mg sữa ong chúa đông khô), 2 lần/ngày trong 25 ngày. Kết quả là các biểu hiện mệt mỏi biến mất, cải thiện giấc ngủ, 74% số người giảm hàm lượng cholesterol và triglyceride.
- Tác dụng của sữa ong chúa đối với suy giảm chức năng tình dục và cải thiện khả năng sinh sản
Trong một nghiên cứu thử nghiệm trên chuột của tác giả Ensieh và cộng sự (2014), sữa ong chúa ở liều lượng 100 mg/kg đã có ảnh hưởng tích cực đối với các thông số của tinh trùng như số lượng, khả năng sống, độ thuần thục, ngoài ra còn làm tăng quá trình peroxide hóa các axít béo và do vậy nó có vai trò quan trọng đối với khả năng sinh sản ở chuột đực. Trước đó, Hassan trong nghiên cứu thử nghiệm sữa ong chúa trên chuột với liều lượng 1g/kg thể trọng cũng đã quan sát thấy sữa ong chúa rất có lợi cho sức khỏe sinh sản của chuột đực đặc biệt đối với số lượng tinh trùng, hàm lượng hormone testosterone, khả năng sống của tinh trùng và sự cải thiện của glutathione malondialdehyde ở mô tinh hoàn (Hasan, 2009).
Ở Nga, liệu pháp sữa ong chúa đã thành công đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh và suy giảm chức năng tình dục cũng như đối với nam giới bị tắc dục (Ludyansky, 1994, bảng 1.2). Trong một cuốn sách của R. Lewis, người ta cho rằng sữa ong chúa có khả năng cải thiện chức năng sinh sản ở cả nam và nữ. Đối với nam, đó là sự tăng lên số lượng tinh trùng, còn đối với nữ, đó chính là sự tăng lên của chất lượng trứng.
Sữa ong chúa cũng có tác dụng cải thiện chức năng sinh lí như Hồi Xuân Hoàn
Sữa ong chúa cũng có tác dụng cải thiện chức năng sinh lí như Hồi Xuân Hoàn.
Bảng 2.1 Sử dụng sữa ong chúa trong một bệnh viện ở Nga
(Ludyanskii, 1994)
Các bệnh được thử nghiệmCác ca được cải thiện tốt và rất tốtCác ca không có sự cải thiện
Xơ cứng động mạch
Hội chứng mãn kinh, hội chứng tắc dục
Tăng trương lực cơ21
Nhược cơ
Bệnh nhi
Thiểu năng tuần hoàn máu
Suy giảm chức năng tình dục (nam giới)

3. Hoạt tính sinh học và tác dụng của sữa ong chúa
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng sữa ong chúa như một dạng thuốc bổ để bồi bổ sức khoẻ, chống lão hoá, làm đẹp da... Ngày nay, người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu tác dụng của sữa ong chúa đối với con người. Với thành phần hoá học đa dạng, phong phú nó có nhiều tác dụng tốt với cơ thể con người ở mọi lứa tuổi. Sữa ong chúa giàu protein, chứa tất cả các axit amin thiết yếu, các axit béo cần thiết, đặc biệt là axit pantothenic (B-5) và pyridoxin (B-6), các khoáng chất và vitamin. Sữa ong chúa còn chứa nhiều collagen, lecithin và các vitamin A, E, ... tất cả đều có lợi cho da [36]. Nếu thoa sữa ong chúa lên da hàng ngày có thể làm da trắng mịn và chống viêm da [32, 34]. Ngoài ra, sữa ong chúa còn chứa nhiều hợp chất có thể làm giảm lượng cholesterol. Một đánh gia của các nghiên cứu trên cơ thể người kết luận rằng, sử dụng 5-100 mg sữa ong chúa mỗi ngày có thể làm giảm  14% cholesterol và 10% triglycerit [19]. Sử dụng sữa ong chúa thường xuyên có thể ngăn ngừa và làm chậm sự phát triển của xơ vữa động mạch [19].
Sữa ong chúa chứa 10-HDA là một loại axit không no tự nhiên có thể ức chế các tế bào ung thư, cụ thể là ung thư vú và ung thư máu. Nghiên cứu gần đây cho thấy 10-HDA có giá trị đáng kể trong lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khoẻ.
Trong một số công trình khoa học đã công bố, sữa ong chúa được báo cáo như một tác nhân làm thay đổi miễn dịch trong bệnh Badơdô [24]. Nó cũng được báo cáo là có tác dụng đối với hệ thần kinh đệm [29] và các tế bào tuỷ sống trong hệ thần kinh [24].
Ngoài ra sữa ong chúa còn được sử dụng như một loại thực phẩm chức năng có khả năng chống mệt mỏi, chống dị ứng, chống lão hoá, chống vi khuẩn, ... [49]. Sữa ong chúa rất tốt cho cơ thể của con người, nếu sử dụng thường xuyên sẽ đem lại một sức khoẻ dẻo dai và phòng chống nhiều lại bệnh tật.

3.1 Hoạt tính kháng khuẩn của sữa ong chúa
Protein và peptide từ sữa ong chúa có thể tham gia vào cơ chế bảo vệ của ong mật chống lại vi khuẩn tác nhân gây bệnh bằng cách trực tiếp làm ngừng hoạt động của vi sinh vật xuất hiện trong các sản phẩm ong mật, cũng như cách cảm ứng của cytokine tham gia trong việc điều hòa phiên mã của các protein và peptide bảo vệ. Protein và peptide trong sữa ong chúa có cấu trúc đơn giản, và có tác dụng kháng sinh chống lại vi khuẩn và nấm. Loại protein có nhiều nhất trong sữa ong chúa là albumin1 đại diện cho 50% protein trong sữa ong chúa của. Peptide có trong sữa ong chúa cho thấy nó có khả năng ức chế vi khuẩn phát triển  S.aureus, L.monocytogens và S.typhimuriumvới nồng độ cao (≥200 mg/ml) [17]. Thành phần trong sữa ong chúa đã  xác định được một số peptide kháng khuẩn bao gồm royalisin, apisimin, jelleines I, II, III, IV, 10-HDA, apalbumina α.
Royalisin
Là một trong những protein được tìm thấy trong sữa ong chúa của loài ong mật Apis mellifera. Royalisin được tìm thấy là có tiềm năng kháng khuẩn hoạt động chống lại vi khuẩn Gram dương ở mức nồng độ thấp, nhưng không chống lại vi khuẩn Gram âm. Royalisin có thể tham gia  hoạt động chống lại sự xâm nhập của các loài vi khuẩn ở ong mật. Royalisin, một loại chất kháng sinh polypeptide trước đây được phân lập từ sữa ong chúa của loài Apis mellifera,cung cấp bảo vệ chống lại nhiễm trùng sữa ong chúa do vi khuẩn Gram dương.
Bilikova et al [14] mô tả rằng royalisin phân bố trong nồng độ 180 mg/ml cho thấy  sự ức chế rõ ràng yếu hơn chống lại vi khuẩn Bacillus subtilis như tetracyclin ở nồng độ 50 mg/ml. Kiểm tra hoạt tính kháng khuẩn cũng cho thấy royalisin chống lại vi khuẩn gram dương tích cực như Bacillus subilis, Sarcina thể vàng và 2 chủng ấu trùng Paenibacillus. Các chủng vi khuẩn gram âm thử nghiệm Escherichia colivà Serratia marcescenslà không bị ức chế. Royalisin ổn định ở pH thấp và nhiệt độ ca. vì có ba cầu nối disulfid bền vững. Tác dụng ức chế của royalisin đối với sự phát triển của vi khuẩn Gram dương và nấm đã được chứng minh. Nó cũng cho thấy hoạt tính kháng khuẩn đặc biệt là đối với  tác nhân gây bệnh Paenibacillus ấu trùng, một  bệnh được tìm thấy trong ấu trùng ong mật.
Apisimin
Apisimin đã được tìm thấy trong sữa ong chúa là một peptide gồm 54 aa, 5540 kDa kích thích sự gia tăng của monocites ở người. Nó rất giàu valine (18,5%), và serine (16,7%), không cysteine, chỉ hai axit amin cơ bản và chỉ chứa một axit amin thơm (phenylalanine) [25].
Jelleines
Các Jelleines là các peptide kháng sinh hoạt động của sữa ong chúa. Bốn peptide kháng sinh có trong sữa ong chúa của loài ong mật là: (Jelleine-I), (Jelleine-II), (Jelleine-III) và (Jelleine-IV). Các Jelleines-I-II-III có khả năng kháng khuẩn, hoạt động chống lại nấm men, vi khuẩn Gram dương và Gram âm, trong khi đó, Jelleine-IV không có khả năng trên [32].
Apalbumina
Apalbumina là một protein chính trong sữa ong chúa có các đặc tính sinh học [50] Apalbumina hình thành cấu trúc tiểu đơn vị α [45]. Các tiểu đơn vị có kích thước khoảng 420 kDa
3.1 Hoạt tính chống oxi hóa của sữa ong chúa
Trong một nghiên cứu của Aziza A., và cộng sự đã kết luận rằng sữa ong chúa có tiềm năng chống lại các nguy hiểm độc hại từ FB (chất được sản sinh từ nấm, là chất độc hại cho người và động vật). Nếu sử dụng sữa ong chúa sẽ giảm các thông số sinh hóa có lợi cho cơ thể con người và động vật, đồng thời cũng điều hòa được các phản ứng hóa học trên các mô của gan và thận. Nghiên cứu cũng khẳng định sữa ong chúa có đặc tính chống oxi hóa [10].
Gần đây nhất, theo một nghiên cứu bằng việc sử dụng các chất bằng cồn, nước và thủy phân với enzyme của sữa ong chúa đã được kiểm tra các tính chất chống oxi hóa. Người ta thấy rằng sữa ong chúa thu được sau 24h chuyển sang ấu trùng có hoạt tính chống oxi hóa mạnh nhất. Hoạt tính chống oxi hóa của sữa ong chúa cũng được chứng minh trên các mô hình thí nghiệm invitro như thực vật, nấm men và chuột. Đồng thời, tác dụng bảo vệ khỏi các rối loạn oxi hóa cũng đã được khẳng định trong các thí nghiệm tiến hành trên các động vật thí nghiệm và quá trình peroxi hóa lipit bị ức chế trong các thí nghiệm invitro và trên chuột. Sữa ong chúa được tìm thấy tác dụng bảo vệ ADN trong mô chống lại tác hại do các quá trình oxi hóa gây ra. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ ăn chứa sữa ong chúa trên chuột, các tác giả thấy rằng sau khi cho chuột ăn sữa ong chúa trong 16 tuần, hàm lượng 8-hydroxyl-2-decoxyguanosine (một chất chỉ thị sự rối loạn oxi hóa) đã giảm đáng kể trong ADN thận và huyết thanh, đồng thời tuổi thọ trung bình của chuột tăng lên nhờ cơ chế làm giảm tác hại của quá trình oxi hóa.
3.2 hoạt tính chống ung thư của sữa ong chúa
Cách đây khoảng vài chục năm, người ta đã bắt đầu nghiên cứu về hoạt tính chống u bướu của sữa ong chúa. Vào năm 1959, trên tạp chí Nature Publishing Group, Gordon F., đã khẳng định sữa ong chúa có khả năng chống u bướu, nguyên nhân là vì trong sữa ong chúa có chứa nhiều loại axit béo, đặc biệt là 10-HDA. Trong một nghiên cứu khác vào năm 2005, L.A. Salazar Olivo và cộng sự cũng khẳng định sữa ong chúa có hoạt tính sinh học đa dạng, nó có thể ảnh hưởng tới sự phát triển tế bào, có khả năng chống lại sự phát triển của các tế bào ung thư [35].
Năm 2003, Iwao Okamoto và cộng sự đã chỉ ra rằng trong sữa ong chúa có chứa các protein có khả năng chống dị ứng [34].
Gần đây, cơ chế của hoạt tính kháng u được cho là nhờ axit 10-HDA có trong sữa ong chúa. Nó có hoạt tính ức chế lên các yếu tố tăng trưởng nội mô của mạch máu như angiogenesis, do vậy chống lại sự phát triển số và sự di cư của tế bào dẫn đến ức chế sự hình thành mạch máu của khối u [15].
3.3 tác động dinh dưỡng hệ thần kinh của sữa ong chúa
Sữa ong chúa có chứa một hàm lượng lớn acetycholine một chất dẫn truyền thần kinh ở cả hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên, nó còn là một chất điều biến thần kinh duy nhất được sử dụng trong phân chia vận động của hệ thống thần kinh cơ vân. Gần đây, người ta đã nghiên cứu và báo cáo rằng sữa ong chúa làm tăng quá trình biệt hóa của tất cả các loại tế bào não từ các tế bào mầm thần kinh trong khi 10- HDA (một axit béo chưa bão hòa đặc trưng của sữa ong chúa) lại tăng sự hình thành các tế bào thần kinh giảm sản sinh tế bào hình sao từ các tế bào mầm thần kinh. Việc uống sữa ong chúa đã làm tăng số lượng các tế bào dạng hạt trong (dentate gyrus) của thùy hải mã (hippocampus) đồng thời cải thiện các quá trình nhận thức bị ảnh hưởng. 10-HDA  từ sữa ong chúa đã ngăn chặn quá trình sản sinh của các tế bào PC12 và kích thích sự biểu hiện của các siêu sợi thần kinh M, một protein đặc trưng cho các neron trưởng thành. Đồng thời, 10-HDA kích thích sự biệt hóa invitro của các tế bào mầm thần kinh thành các neron.
3.4 Tác động như isulin của sữa ong chúa
Y học Trung Hoa và Nhật Bản đã sử dụng sữa ong chúa để ngăn ngừa bệnh tiểu đường và giữ đường huyết ở mức độ bình thường. Sữa ong chúa có thể giảm hàm lượng đường trong máu nhờ các peptide giống insulin và các hợp chất khác như (chromium, sulphur, vitamin B3 và vitamin H). Sữa ong chúa cũng có khả năng duy trì nồng độ đường huyết tối ưu bằng cách oxi hóa một phần glucose để thu năng lượng nhờ các peptide có tác dụng giống như insulin. Hơn nữa, insulin tìm thấy trong sữa ong chúa dường như rất giống với insulin tìm thấy trong động vật có vú. Ở những bệnh nhân tiểu đường kháng insulin, sữa ong chúa làm giảm hàm lượng đường tới 33% trong 3h sau khi tiêm. Một số xét nghiệm cũng được thực hiện trên động vật để khẳng định tác dụng của sữa ong chúa trên bệnh tiểu đường. Sữa ong chúa đã làm giảm alloxan gây ra bệnh tiểu đường ở chuột, việc sử dụng kết hợp sữa ong chúa và dung dịch fructose trong 8 tuần trên chuột kháng insulin đã giảm đáng kể nồng độ insulin và triglixerid trong huyết tương đồng thời giảm huyết áp mà không ảnh hưởng tới hàm lượng glucose và cholesterol tổng số trong máu. Những kết quả này đã khẳng định sữa ong chúa có thể trở thành một thực phẩm chức năng để ngăn ngừa sự kháng insulin kiên quan tới sự phát triển triệu chứng tăng huyết áp ở bệnh nhân tiểu đường
3.5 Tác động hạ huyết áp và điều hòa máu
Sữa ong chúa tác động đến hệ thống tim mạch và máu như một chất điều hòa huyết áp, nó kích thích và tiếp thêm sinh lực cho sinh vật. Sữa ong chúa được khuyến khích sử dụng thay thế thuốc trong điều trị bệnh thiếu máu (một liệu pháp điều trị kéo dài 2-3 tuần đã cải thiện đáng kể số lượng và chất lượng các tế bào máu đỏ), hạ huyết áp, tăng huyết áp và bệnh xơ vữa động mạch.
Sữa ong chúa có tác dụng hạ huyết áp và điều hòa máu rất tốt
Sữa ong chúa có tác dụng hạ huyết áp và điều hòa máu rất tốt
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã khám phá ra rằng ảnh hưởng của các peptid cụ thể thu được từ quá trình thủy phân sữa ong chúa bằng enzyme trên các động vật thí nghiệm chuyển hóa angiotensin 1 và huyết áp của chuột cao huyết áp ngẫu nhiên đã giảm xuống sau khi uống liều lượng sữa ong chúa lặp đi lặp lại nhiều lần, hiệu quả hạ huyết áp đạt tới 38% [46]. Ngoài ra các nghiên cứu khác cũng thấy rằng axit trans-2-octenoid và axit hydroxydecanoic của sữa ong chúa có thể chịu trách nhiệm đối với hoạt tính chống cao huyết áp.
Sữa ong chúa được cho là rất có hiệu quả trong việc hạ huyết áp và  kiểm soát hàm lượng triglyxerit và cholesterol ở người. Đã có rất nhiều báo cáo về tác dụng này của sữa ong chúa. Sử dụng liều lượng 50-100 mg sữa ong chúa mỗi ngày đã hạ thấp hàm lượng cholesterol huyết thanh tổng số tới 14% và lipid tổng số tới 10% ở các bệnh xơ vữa động mạch. Đối với người cao tuổi hơn thì ăn 10g sữa ong chúa mỗi ngày trong 14 ngày đã tăng hàm lượng HDL và cải thiện hàm lượng LDL trong huyết thanh mà không ảnh hưởng tới hàm lượng triglyxerit. Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng uống 6 g sữa ong chúa mỗi ngày trong 4 tuần dẫn tới hạ thấp nồng độ cholesterol tổng số và LDL trong huyết thanh mà không ảnh hưởng tới nồng độ HDL hay các triglyxerid. Cơ chế tác động của sữa ong chúa đối với sự giảm nồng độ cholesterol là bằng cách gắn kết các phytosterol giống sterol sinh học trong hệ thống tiêu hóa. Một nghiên cứu thực hiện trên chuột chứng minh rằng các tác dụng giảm nồng độ cholesterol dường như là nhờ quá trình điều chỉnh enzyme aqualene và các thụ thể LDL liên quan đến tổ chức cholesterol trong gan. Sữa ong chúa kích thích sự sinh trưởng tế bào, đặc biệt các tế bào gan. Protein có trọng lượng phân tử 57 kDa dường như chịu trách nhiệm cho tác dụng này.
Có một số nghiên cứu khác tập chung vào tác dụng bảo vệ của sữa ong chúa chống lại chất độc khác nhau trên chuột. Sữa ong chúa ngăn chặn sự tăng nồng độ cholesterol gây ra bởi nicotin-1 và hạ thấp nồng độ cholesterol huyết thanh ở chuột ăn khẩu phần giàu cholesterol. Sữa ong chúa có tác dụng cũng phụ thuộc vào liều lượng sử dụng để chống lại các fumosin (các mycotoxin) trên chuột bao gồm cải thiện đáng kể các mô cũng như các thông số hàm lượng huyết thanh trong gan và thận. Trong các thí nghiệm trên động vật và người, sữa ong chúa có tác dụng chống lại quá trình tái cấu trúc glycogen và giúp giải độc ammoniac và axit lactic (gây ra mệt mỏi) tăng cường lưu lượng oxi tới tế bào gan, từ đó tăng cường sự phát triển của tế bào gan và sức khỏe của gan.
Dược Nghi Thành

0989071392